Nữ trí thức Việt Nam: Cầu nối khoa học và bình đẳng giới trong kỷ nguyên mới

Bài viết liên quan
Danh mục liên quan
Thẻ liên quan
Chia sẻ bài viết

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những đột phá mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vai trò của đội ngũ trí thức, đặc biệt là nữ giới, ngày càng trở nên quan trọng. Đây không chỉ là vấn đề phát triển khoa học – công nghệ, mà còn gắn liền với mục tiêu bình đẳng giới, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững và khẳng định vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngày 28/8 tại TP.HCM, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Đại học Quốc gia TP.HCM và Báo Phụ Nữ TP.HCM phối hợp tổ chức hội thảo: “Dấu ấn trí tuệ của nhà khoa học nữ Việt Nam và khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới”. Hội thảo quy tụ nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, lãnh đạo doanh nghiệp, bàn về vai trò của nữ giới trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, các rào cản xã hội, cũng như cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới trở thành một trụ cột phát triển.

Tại sự kiện, đại diện Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) là ông Nguyễn Phạm Hà Minh, Phó giám đốc Trung tâm BSA đã chia sẻ chủ đề: “Thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc là giải pháp nâng cao chất lượng nhân sự nghiên cứu khoa học trong tổ chức”.

Ông Hà Minh giới thiệu về chương trình GEARS@VN ra đời với sự hỗ trợ của Chính phủ Australia thông qua sáng kiến Investing in Women, cùng sự đồng hành của Trung tâm BSA và doanh nghiệp xã hội ECUE, nhằm thúc đẩy sự tham gia và trao quyền cho nữ giới trong lĩnh vực kinh tế và kinh doanh. Hiện chương trình này đang được triển khai ở các nước Indonesia, Philippines, Việt Nam và Myanmar.

GEARS@VN được thiết kế như một bộ công cụ hỗ trợ đo lường và thực hành ESG toàn diện trong quản trị nguồn nhân lực, qua đó gia tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Chương trình được triển khai với 3 tuyến hoạt động nổi bật, bao gồm:

(1) Hỗ trợ đo lường và tư vấn cải thiện chỉ số Bình đẳng giới tại nơi làm việc, giúp doanh nghiệp có số liệu minh bạch và xác thực để có thể đưa vào các báo cáo theo khung đánh giá ESG;

(2) Hỗ trợ truyền thông cho những sáng kiến và nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc của doanh nghiệp thông qua hoạt động của Câu lạc bộ doanh nghiệp tiên phong thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc, từ đó xây dựng cộng đồng có cùng tầm nhìn về bình đẳng giới tại nơi làm việc để chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi và lan tỏa hiệu ứng tích cực trong xã hội;

(3) Kết nối kinh doanh và đầu tư giữa các doanh nghiệp tham gia chương trình với nguồn vốn đầu tư tác động.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai trình bày tham luận với chủ đề: “Nữ trí thức – Nhân tố kết nối Ba Nhà và kiến tạo đột phá khoa học – công nghệ trong kỷ nguyên mới”, nhấn mạnh rằng nữ trí thức có thể trở thành chất xúc tác đặc biệt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, bởi họ đem đến cách tiếp cận đa chiều, nhạy bén trong hợp tác và có xu hướng gắn kết cộng đồng.

Trung tâm BSA xin lược ghi những nội dung chính trong bài tham luận này.

Bài tham luận của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai – Phó giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM nhấn mạnh, nữ trí thức chính là nhân tố kết nối “Ba Nhà” (Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp), kiến tạo đột phá khoa học – công nghệ trong kỷ nguyên mới.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai – Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM chia sẻ tham luận tại hội thảo

Lịch sử dân tộc cũng đã chứng minh vai trò không thể thay thế của phụ nữ Việt Nam. Từ chính trường, giảng đường, phòng thí nghiệm cho đến thương trường, lớp lớp thế hệ phụ nữ đã để lại những dấu ấn sâu đậm, dám nghĩ, dám làm, dám dẫn dắt để kiến tạo bước tiến vượt lên định kiến, khẳng định giá trị và đóng góp to lớn cho khoa học – công nghệ cũng như phát triển quốc gia. Họ là những người không chỉ ở hậu phương mà còn hiện diện ở tuyến đầu, trực tiếp chèo lái, sáng tạo và mở đường.

Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực STEM không chỉ là yêu cầu công bằng xã hội mà còn là nhân tố làm tăng chất lượng nghiên cứu. Nhiều khảo sát cho thấy, các nhóm nghiên cứu đa dạng giới thường sáng tạo hơn, bởi sự đa dạng quan điểm giúp giải quyết vấn đề toàn diện, tránh “tư duy lối mòn”. Thế nhưng, tình hình thực tế vẫn phản ánh sự chênh lệch đáng kể.

Theo UNESCO (2023), phụ nữ chỉ chiếm 31% tổng số nhà nghiên cứu toàn cầu, và khoảng cách giới càng rõ rệt ở những vị trí học thuật cao. Họ chỉ chiếm 12% thành viên các viện hàn lâm quốc gia, ít được mời diễn thuyết tại hội nghị lớn, tỷ lệ làm tác giả chính của các bài báo khoa học cũng thấp hơn nam giới. Đây là minh chứng cho sự tồn tại của “trần kính” và “đường ống rò rỉ”, khiến phụ nữ gặp nhiều trở ngại trên con đường sự nghiệp khoa học.

Ở nhiều khu vực, bức tranh đa dạng hơn. Mỹ Latinh và Caribe có gần một nửa số nhà nghiên cứu là nữ, trong khi một số quốc gia châu Á phát triển lại có tỷ lệ thấp, Nhật Bản chỉ 17%, Đài Loan 18,8%, Hàn Quốc 20–25%, Trung Quốc 28%. Ngay trong ASEAN, Philippines và Thái Lan có trên 50% nhà nghiên cứu là nữ, nhưng Singapore chỉ 34%, Campuchia khoảng 20%. Việt Nam là trường hợp đặc biệt, khi tỷ lệ nữ nghiên cứu đạt khoảng 45% – thuộc nhóm cao nhất khu vực và vượt trung bình toàn cầu. Đây là kết quả phản ánh truyền thống coi trọng giáo dục bình đẳng cũng như nỗ lực bền bỉ của các nữ trí thức Việt.

Trong bối cảnh bốn nghị quyết lớn của Bộ Chính trị (57, 59, 66, 68) được ví như “tứ trụ” đưa đất nước bứt phá, việc xóa bỏ rào cản giới trong khoa học sẽ giải phóng nguồn lực to lớn, tạo thêm động lực cho phát triển.

Nữ trí thức cầu nối trong mô hình “Ba Nhà”

Ở góc độ vận hành, mô hình “Ba Nhà” (Triple Helix) được xem là khung lý thuyết hiệu quả để kết nối Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp. Đây là công cụ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thương mại hóa tri thức và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nữ trí thức, với lợi thế nhạy bén trong hợp tác, có xu hướng kết nối liên ngành, liên tổ chức cao hơn, thường đóng vai trò “cầu nối” đưa tri thức lưu thông nhanh hơn giữa các trụ cột.

Thực tế cho thấy nhiều nhà khoa học nữ ở Việt Nam đã tiên phong trong biến đổi khí hậu, y sinh, nông nghiệp thông minh, khởi nghiệp công nghệ. Họ mang ngôn ngữ khoa học hàn lâm đến gần với doanh nghiệp và xã hội, đồng thời lan tỏa chính sách khoa học tới cộng đồng một cách dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Ở cấp độ Nhà nước – Nhà trường, sự tham gia của phụ nữ vào các hội đồng tư vấn chính sách cũng giúp chính sách nhân văn, bao trùm hơn.

Ở cấp độ Nhà trường – Doanh nghiệp, nhiều nữ khoa học đã sáng lập startup công nghệ thành công, chứng minh khả năng kết nối nghiên cứu và thị trường.

Và ở cấp độ Nhà nước – Doanh nghiệp, phụ nữ cũng có vai trò “nhà ngoại giao”, kết nối các doanh nghiệp với chiến lược phát triển quốc gia. Những phân tích của dự án Gendered Innovations do Đại học Stanford khởi xướng cũng chứng minh rằng việc lồng ghép giới vào toàn bộ vòng đời nghiên cứu sẽ không chỉ thúc đẩy bình đẳng mà còn nâng cao chất lượng, mở ra hướng đi mới cho sáng tạo.

Thực tiễn tại Đại học Quốc gia TP.HCM minh chứng rõ nét cho hiệu quả của mô hình “Ba Nhà”. Là đại học hàng đầu cả nước, ĐHQG-HCM tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao, tái cấu trúc chương trình theo hướng tích hợp công nghệ – kinh doanh – quản trị, đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Nhà trường cũng phát triển nhiều chương trình liên ngành trong các lĩnh vực lõi như AI, bán dẫn, y sinh, kinh tế số, kinh tế xanh, đồng thời xây dựng hạ tầng kết nối như phòng thí nghiệm dùng chung, dữ liệu mở, vườn ươm công nghệ mở.

Những định hướng này đã nhanh chóng được hiện thực hóa bằng các hợp tác chiến lược. Ngày 24/5/2025, ĐHQG-HCM ký kết hợp tác với 10 doanh nghiệp lớn như VNG, Coteccons, TTC AgriS, Nestlé, Suntory PepsiCo, ACB, Điện Quang… Đây là lần đầu tiên trường ký hợp tác toàn diện với quy mô lớn như vậy, thể hiện tinh thần “Ba Nhà” đúng nghĩa.

Tháng 4/2025, ĐHQG-HCM hợp tác với VinUni giai đoạn 2025–2030, tập trung vào AI, dữ liệu và chuyển đổi số, được khởi xướng mạnh mẽ bởi nữ doanh nhân TS. Lê Mai Lan.

Tháng 7/2025, ĐHQG-HCM ký hợp tác trị giá 100 tỷ đồng với CT Group trong 10 năm, tập trung phát triển công nghệ cao, đặc biệt là bán dẫn, đồng thời hỗ trợ giữ chân nhân tài trẻ thông qua chương trình học bổng, đào tạo và lương cho nhà khoa học xuất sắc.

Những dự án này không chỉ thể hiện quyết tâm đổi mới mà còn khẳng định vai trò “cầu nối” của nữ trí thức, những người trực tiếp tham gia đàm phán, tạo dựng niềm tin và sự đồng thuận. Từ thực tiễn này, có thể thấy rằng khi nữ trí thức được trao quyền, họ có thể đảm nhiệm vai trò hạt nhân trong việc gắn kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp, kiến tạo đột phá khoa học – công nghệ. Để phát huy nguồn lực ấy, cần hệ thống chính sách đồng bộ.

Trước hết là hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế bình đẳng giới trong khoa học, cụ thể hóa bằng chỉ tiêu tối thiểu về tỷ lệ nữ chủ nhiệm đề tài, nữ trong hội đồng khoa học, lồng ghép giới trong tài trợ nghiên cứu.

Kế đến là xây dựng môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ, hỗ trợ chế độ thai sản linh hoạt, bố trí thời gian giảng dạy phù hợp, có nhà trẻ hoặc trợ cấp gửi trẻ, đồng thời xây dựng văn hóa tôn trọng đa dạng. Các mô hình như Athena SWAN của Anh hay chính sách phúc lợi Bắc Âu là minh chứng thành công.

Thứ ba, cần xây dựng mạng lưới nữ trí thức và chương trình cố vấn, khuyến khích thế hệ đi trước dìu dắt thế hệ sau. Các trường, doanh nghiệp có thể lập quỹ học bổng, ghế giáo sư dành riêng cho nữ trong STEM, hoặc tham gia phong trào HeForShe.

Thế giới đã chứng minh rằng ở đâu phụ nữ được trao quyền, ở đó khoa học và xã hội bứt phá. Việt Nam có nền tảng thuận lợi để đi theo hướng này. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và cũng là kỷ nguyên khát vọng hùng cường dân tộc.

Bốn nghị quyết 57, 59, 66, 68 được ví như “tứ trụ” để Việt Nam cất cánh. Đặc biệt, Nghị quyết 57 đề cao vai trò nhà khoa học, trong đó gần một nửa lực lượng là nữ – đồng nghĩa sứ mệnh lịch sử được trao ngang bằng. Nếu ví khát vọng dân tộc như một cánh đại bàng, thì đôi cánh ấy sẽ không thể bay cao nếu thiếu sức mạnh từ hàng triệu phụ nữ trí thức. Chính họ – những “đóa hồng trí tuệ” – đang và sẽ tiếp tục tỏa sáng, từ giảng đường đến phòng thí nghiệm, từ công trường đến hội trường, âm thầm kiến tạo tương lai, chắp cánh khát vọng bứt phá của đất nước.

Chia sẻ bên lề sự kiện, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai cho hay: Mới đây tôi có chuyến công tác tại Úc, và được làm việc về vấn đề bình đẳng giới tại đây. Tôi thấy Chính phủ Úc họ làm rất quyết liệt, họ yêu cầu các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp làm sao phải có tỉ lệ nữ giới làm việc và nữ giới làm lãnh đạo đạt trên 50%. Và như thế họ có nhiều chính sách hỗ trợ cho phụ nữ, cùng với đó còn hỗ trợ luôn chon nam giới, để nam giới dành nhiều thời gian chăm sóc con, chăm sóc gia đình hơn, giúp phụ nữ có nhiều thời gian hơn cho các hoạt động chuyên môn.

Các đại biểu chụp hình tại sự kiện

BSA lược ghi

Đọc thêm về chúng tôi